Soạn văn: CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG (Trích Truyền kì mạn lục) - Sach hay, Top 10 hay nhat, NCKHSPUD, SKKN, Hoi dap


Máy trợ giảng giá rẻ -> Bấm vào đây ...Lịch tết đẹp==> Bấm vào đây ...

Máy trợ giảng giá rẻ, Bấm vào đây
Cho tóc luôn dày và mượt - ngăn rụng tọc - giữ thanh xuân, Bấm vào đây
Tác giả: Nguyễn Dữ sống ở thế kỉ XVI, người huyện Trường Tân, tỉnh Hải Dương. Tuy học rộng, tài cao nhưng Nguyễn Dữ tránh vòng danh lợi, chỉ làm quan một năm rồi về sống ẩn dật ở quê nhà. Sáng tác của Nguyễn Dữ thể hiện cái nhìn tích cực của ông đối với văn học dân gian.
>> Top 10 cuốn sách ôn thi vào lớp 10 môn Toán
>> Top 10 cuốn sách ôn thi vào lớp 10 môn Tiếng Anh
Tác phẩm:
-Ý nghĩa nhan đề tác phẩm Truyền kì mạn lục: Ghi chép tản mạn những điều kì lạ vẫn được lưu truyền
- Nguồn gốc của các truyện trong tác phẩm: Từ các truyện cổ dân gian và các truyền thuyết lịch sử, dã sử của Việt Nam.
- Nhân vật mà Nguyễn Dữ chọn để kể là những người phụ nữ, trí thức.
- Hình thức nghệ thuật: viết bằng chữ Hán, sáng tạo lại câu chuyện dân gian.
àVũ Khâm Lân “Truyền kỳ mạn lục là thiên cổ kỳ bút”

-Xuất xứ văn bản: Là một trong hai mươi truyện của tác phẩm Truyền kì mạn lục được tác giả sáng tạo từ truyện dân gian Vợ chàng Trương.
1. Nội dung
Nhân vật chính được Nguyễn Dữ chọn để kể là Người phụ nữ: Vũ Nương
Vẻ đẹp của nhân vật Vũ Nương:
- Tính đã thuỳ mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp.
-Với chồng: Nàng giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hoà. Chờ đợi, giữ tiết, nhớ chồng khôn nguôi.
-Với mẹ chồng: hết sức thuốc thang, lễ bái thần phật, lời lẽ ngọt dịu, chăm sóc chu đáo ân cần; lo ma chay, tế lễ như mẹ ruộng của mình.
-Với con: chu đáo tận tình
à Hết lòng vì gia đình, hiếu thảo với mẹ chồng, thuỷ chung với chồng, chu đáo, tận tình và rất mực thương con.
àBao dung, vị tha, nặng lòng vì gia đình.
2. Thái độ của tác giả:
-Phê phán sự ghen tuông mù quáng (Chỉ vì 1 cái bóng mà người chồng ngu xuẩn đẩy vợ đến cái chết.)
-Ngợi ca người phụ nữ tiết hạnh; cảm thương với số phận oan nghiệt của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến.

Vũ Nương là một người phụ nữ tiết hạnh, chịu thương chịu khó là thế nhưng lại mang nỗi oan tài trời, đến nỗi phải gieo mình xuống dòng Hoàng giang mà chết.
Nguyên nhân dẫn đến cái chết của Vũ Nương: Chiếc bóng của nàng mỗi tối ru conà sự ghen tuông mù quáng của chồng nàng
Nghệ thuật:
-Khai thác vốn văn học dân gian. 
Những sáng tạo của tác giả trong văn bản:
-Sáng tạo về nhân vật, sáng tạo trong cách kể chuyện, sử dụng yếu tố truyền kì.
-Sáng tạo nên một kết thúc tác phẩm không sáo mòn.
Truyện dân gian: quan niệm nhân-quả; văn bản: Vũ Nương được giải oan. Nguyễn Dữ sáng tạo phần cuối để Vũ Nương không chết, được sống cuộc sống yên lành tốt đẹp dưới thủy cung.
3.Ý nghĩa văn bản:
Với quan niệm cho rằng hạnh phúc khi đã tan vỡ không thể hàn gắn được, truyện phê phán thói ghen tuông mù quán và ngợi ca vẻ đẹp truyền thống chịu thương chịu khó của người Việt Nam.
Liên quan

Câu 1: 
- Đoạn 1 (từ đầu đến “lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình”): Cuộc hôn nhân giữa Trương Sinh và Vũ Nương, sự xa cách vì chiến tranh và phẩm hạnh của nàng trong thời gian xa cách.
- Đoạn 2 (“Qua năm sau… nhưng việc trót đã qua rồi”): Nỗi oan khuất và cái chết bi thảm của Vũ Nương.
- Đoạn 3 (phần còn lại): Cuộc gặp gỡ giữa Phan Lang và Vũ Nương trong động Linh Phi. Vũ Nương được giải oan.
Câu 2: Nhân vật Vũ Nương được miêu tả trong các hoàn cảnh khác nhau.
- Cảnh 1: Trong cuộc sống vợ chồng, nàng “giữ gìn khuôn phép”.
- Cảnh 2: khi tiễn chồng đi lính. Trong lời dặn dò đầy tình nghĩa của Vũ Nương: nàng không trông mong vinh hiển mà chỉ cầu cho chồng được bình an trở về.
- Cảnh 3: khi xa chồng, Vũ Nương là người vợ thủy chung, yêu chồng tha thiết. Nàng còn là người mẹ hiền, dâu thảo.
- Cảnh 4: khi bị chồng nghi oan.
+ phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng mình.
+ nói lên nỗi đau đớn, thất vọng
+ Hành động tự trẫm mình
=> Vũ Nương là một người phụ nữ xinh đẹp, nết na, hiền thục, lại đảm đang, tháo vát, thờ kính mẹ chồng rất mực hiếu thảo, một dạ thủy chung với chồng.
Câu 3:
- Nguyễn nhân gián tiếp:
+ Chiến tranh phong kiến.
+ Chế độ gia trưởng, trọng nam khinh nữ.
+ Cuộc hôn nhân giữa Trương Sinh và Vũ Nương có phần không bình đẳng.
- Nguyễn nhân trực tiếp:
+ Do chồng vô học đa nghi, hay ghen và gia trưởng, độc đoán.
+ Do lời nói của đứa trẻ ngây thơ, chứa đầy những dữ kiện đáng ngờ.
=> Bi kịch của Vũ Nương là một lời tố cáo xã hội phong kiến. Người phụ nữ bị đối xử một cách bất công, vô lí; chỉ vì lời nói ngây thơ của đứa trẻ và sự hồ đồ, vũ phu của người chồng ghen tuông mà đến nỗi phải kết liễu cuộc đời mình.
Câu 4: 
- Trên cơ sở cốt truyện có sẵn, tác giả đã sắp xếp lại một số tình tiết, thêm bớt hoặc tô đậm những tình tiết có ý nghĩa, có tính chất quyết định đến quá trình diễn biến của truyện cho hợp lí, tăng cường tính bi kịch và cũng làm cho truyện trở nên hấp dẫn và sinh động hơn.
 - Truyện có nhiều lời thoại và lời tự bạch của nhân vật làm cho câu chuyện trở nên sinh động, góp phần khắc họa quá trình tâm lí và tính cách nhân vật.

Câu 5: 
- Những yếu tố kì ảo:

+ Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa.

+ Phan Lang lạc vào động rùa của Linh Phi, được đãi tiệc yến và gặp Vũ Nương, người cùng làng đã chết, rồi được sứ giả của Linh Phi rẽ nước đưa về dương thế;

+ Hình ảnh Vũ Nương hiện ra sau khi Trương Sinh lập đàn tràng giải nỗi oan cho nàng ở bến Hoàng Giang lung linh, huyền ảo, rồi bỗng chốc “bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất”.

- Ý nghĩa:

+ Làm hoàn chỉnh thêm những nét đẹp vốn có của nhân vật Vũ Nương.

+ Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu cho tác phẩm, thể hiện ước mơ ngàn đời của nhân dân ta về sự công bằng trong cuộc đời.

Luyện tập: Hãy kể lại Chuyện người con gái Nam Xương theo cách của em.

Bài làm

      Vũ Thị Thiết quê ở Nam Xương xinh đẹp, nết na. Trương Sinh cùng làng, mến vì dung hạnh, xin mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Biết tính chồng đa nghi, nàng giữ gìn khuôn phép không để xảy ra bất hòa.

      Cuộc sum vầy chưa được bao lâu thì Trương Sinh phải tòng quân đi đánh giặc Chiêm. Trong buổi tiễn đưa, Vũ Nương rót chén rượu đầy đưa cho chồng và nói chỉ mong ngày chồng trở về mang theo hai chữ bình yên.

      Chồng ra lính được một tuần thì Vũ Nương sinh được đứa con trai đặt tên là Đản. Nửa năm đã trôi qua, bà mẹ chồng già yếu, buồn lo rồi đau ốm. Nàng hết lòng săn sóc cơm cháo thuốc thang, ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn. Bệnh mỗi ngày một nặng, mẹ chồng qua đời, nàng vô cùng thương xót, mọi việc ma chay tế lễ, nàng lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình.

      Qua năm sau giặc tan, Trương Sinh được trở lại nhà, con vừa học nói. Chàng bế con đi thăm mồ mẹ, đứa trẻ không chịu và quấy khóc. Nghe Sinh dỗ dành, con ngây thơ nói: "Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói. chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít". Nghe Sinh gạn hỏi, đứa bé lại nói: "Trước đây, thường có một người đàn ông, đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chảng bao giờ bế Đản cả". Vốn có tính ghen, nghe con nói, Trương Sinh đinh ninh là vợ hư. Chàng la um lên cho hả giận. Vợ khóc lóc phân trần, chàng càng mắng nhiếc đánh đuổi đi. Trước cảnh bình rơi trâm gãy, Vũ Nương tắm gội chay sạch, ra bến Hoàng Giang, ngửa mặt lên trời mà than, mong thần sông linh thiêng chứng giám. Nàng nguyền, nếu đoan trang, trinh bạch xin được làm ngọc Mị Nương, làm cỏ Ngu mĩ; nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con thì xin làm mồi cho tôm cá, làm cơm cho diều quạ...

Vũ Nương nhảy xuống sông tự tử. Chẳng bao lâu sau, một đêm vắng vẻ, ngồi dưới đèn khuya, bỗng đứa con chỉ chiếc bóng in lên vách mà nói rằng: "Cha  Đản lại đến kia kìa'". Lúc bấy giờ Trương Sinh mới thấu nỗi oan của vợ.

     Lại nói chuyện Phan Lang người cùng làng, làm đầu mục ở bến đò Hoàng Giang. Một đêm chiêm hao thấy người con gái áo xanh đến kêu xin tha mạng. Sáng dậy, có người phường chài đem biếu một con rùa mai xanh, Phan chợt nghĩ đến chuyện mộng bèn đem thả con rùa ấy. Chẳng bao lâu sau, dưới thời Khai Đại nhà Hồ, giặc Minh sang cướp nước ta. Nhiều người sợ hãi chạy trốn, thuyền bè bị đắm, chết đuối đầy sông, trong đó có Phan Lang, xác dạt vào động rùa ở hải đảo. Linh Phi là vợ vua Nam Hải chợt nhìn thấy, bèn nói: "Đâv là vị ân nhân cứu sống ta thuở xưa". Linh Phi lấy khăn dấu mà lau, thuốc thần mà đổ, một chốc sau Phan Lang hồi sinh.

     Linh Phi rước Phan Lang vào cung nước, mở tiệc lớn ở gác Triêu Dương để đãi ân nhân. Trong bữa tiệc có nhiều mĩ nhân, áo quần thướt tha, tóc búi xễ, trong đó có một người chỉ điểm qua son phấn rất giống Vũ Nương. Tiệc xong, người đàn bà ấy đến gặp Phan Lang. Vũ Nương nói lại tình cảnh mình được các nàng tiên trong cung nước thương tình mà cứu sống. Nghe Phan nhắc lại cố hương, mồ mả tiền nhân,... Vũ Nương khóc...

Hôm sau, Linh Phi lấy một cái túi bằng lụa tía, đựng 10 hạt minh châu, sai sứ Xích Hỗn đưa Phan ra khỏi nước. Vũ Nương cũng gửi Phan chiếc hoa vàng đưa về cho Trương Sinh và dặn lập đàn giải oan, đốt cây đèn thần trên bến Hoàng Giang thì nàng sẽ trở về.

    Nhận được chiếc hoa vàng, Trương Sinh thốt lên: "Đây quả là vật dùng mà vợ tôi mang lúc ra đi...". Sinh làm đàn tràng, đốt cây đòn thần ba ngày đêm trên bến Hoàng Giang. Vũ Nương đã hiện về, ngồi trên một chiếc kiệu hoa, theo sau có 50 chiếc xe cờ tán, võng lọng rực rỡ đầy sông."Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng trở về nhân gian được nữa...", tiếng Vũ Nương vọng vào, bóng nàng loang loáng mờ dần rồi biến mất.


Nguyễn Dữ, Ngữ văn, Ngữ văn 9, Kiến thức, Kiến thức THCS, Lớp 9,
Những cuốn sách hay nên đọc - Bấm vào đây
Thống kê điểm chuẩn lớp 10 nhiều năm - Bấm vào đây
Tải SKKN=Tài liệu - Bấm vào đây

loading...

0 comments Blogger 0 Facebook

Post a Comment



 
Sach hay, Top 10 hay nhat, NCKHSPUD, SKKN, Hoi dap ©Email: tailieuchogiaovien@gmail.com. All Rights Reserved. Powered by >How to best
Link:Bantintuvan|tailieusupham|khoahocsupham|SKKN hay|Soidiemchontruong|dayvahoctot|diemthivao10hoctrenmobile|tradiemthituyensinh|Travel - Du lịch
Lớp 9: Ngữ văn | Toán | Tiếng Anh |Lịch sử |Địa lí | GDCD |
Trắc nghiệm lớp 9: Lịch sử
Lớp 12Ngữ văn|Toán|Tiếng Anh| Hóa học | Sinh học | Vật lí |Lịch sử|Địa lí|GDCD|
Top