Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ: Giang Nam với bài thơ quê hương - Sach hay, Top 10 hay nhat, NCKHSPUD, SKKN, Hoi dap


Máy trợ giảng giá rẻ -> Bấm vào đây ...Chọn quà tặng thầy cô ý nghĩa==> Bấm vào đây ...

Máy trợ giảng giá rẻ, Bấm vào đây
Cho tóc luôn dày và mượt - ngăn rụng tọc - giữ thanh xuân, Bấm vào đây
 - Bài thơ Quê hương nổi tiếng của Giang Nam từng được đưa vào sách giáo khoa và bao thế hệ học trò đã thuộc lòng từng câu, từng chữ...
    Ở đó, người đọc bị cuốn hút, ám ảnh bởi những tiếng cười khúc khích thật hồn nhiên để rồi bỗng thấy hụt hẫng khi nghe tin dữ...

 Có một thời, bạn đọc đón chờ những bài thơ từ chiến trường gửi ra của nhà thơ  Giang Nam với một tâm lý đặc biệt. Họ muốn được neo lòng mình vào cuộc chiến đấu chung của đồng bào, chiến sĩ miền Nam, muốn được vui buồn, thổn thức với những mảng hiện thực mà tác giả nhanh nhạy ghi lại từ cuộc chiến khốc liệt, một cuộc chiến có thể làm những trái tim chai sạn cũng phải trào dâng niềm thương xót bởi có quá nhiều gương mặt phụ nữ và trẻ em...


Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường
Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ
"Ai bảo chăn trâu là khổ?"
Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao

Những ngày trốn học
Đuổi bướm cầu ao
Mẹ bắt được
Chưa đánh roi nào đã khóc!
Có cô bé nhà bên
Nhìn tôi cười khúc khích...

Cách mạng bùng lên
Rồi kháng chiến trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Từ biệt mẹ, tôi đi
Cô bé nhà bên (có ai ngờ)
Cũng vào du kích
Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích
Mắt đen tròn (thương quá đi thôi)
Giữa cuộc hành quân không nói được một lời
Đơn vị đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại
Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi...

Hòa bình tôi trở về đây
Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày
Lại gặp em
Thẹn thùng nép sau cánh cửa
Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ
Chuyện chồng con (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bày tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng

Hôm nay nhận được tin em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc bắn em rồi, quăng mất xác
Chỉ vì em là du kích em ơi!

Đau xé lòng tôi, chết nửa con người...
Xưa quê hương vì có chim, có bướm
Có những ngày trốn học bị đòn, roi
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Có một phần xương thịt của em tôi.


                                                        1960 - Giang Nam
 Quê hương - Bài thơ làm trong một giờ.
    “Hồi đó, tôi giác ngộ cách mạng rất sớm, từ năm 20 tuổi, lại được người anh trai - nhà cách mạng Nguyễn Lưu- truyền cho bầu nhiệt huyết, nên luôn sôi sục ý chí chiến đấu và sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Có năng khiếu chữ nghĩa nên khi vào hoạt động cách mạng, tôi được giao nhiệm vụ tuyên huấn”- nhà thơ Giang Nam bồi hồi nhớ lại. Chính những ngày làm cán bộ dân chính, Giang Nam đã nảy nở tình yêu với bà Phạm Thị Chiều – người đã đi suốt cuộc hành trình của đời ông và cũng chính là nhân vật làm bật lên cảm xúc để ông viết bài thơ Quê hương. Thời khắc nghiệt của chiến tranh, tình yêu bung nở một cách giản dị nhưng có sức gắn kết bền chặt đến phi thường. “Cùng làm ở cơ quan dân chính Phú Khánh, hồi đó tôi rất thích vợ tôi nhưng xung quanh cô ấy lại có rất nhiều người theo đuổi, nên tôi chỉ còn cách mỗi lần đến đưa công văn, gửi kèm cho cô ấy một lá thư chứ không dám đến hỏi thêm gì. Viết thư cũng chỉ dám hỏi mấy câu đơn giản như; anh có ý thích em, em nghĩ thế nào?”. Sau lá thứ hai, Giang Nam bồn chồn chờ đợi suốt cả tuần lễ, cuối cùng cũng nhận được hồi âm… Từ đó, họ bắt đầu một tình yêu và không lâu sau thì làm đám cưới (vào đầu năm 1955).
    Cưới xong ở với nhau được đúng hai đêm, ông lại phải nhận nhiệm vụ mới ở Bình Định. Đây cũng là cái mốc đánh dấu cho những chuỗi ngày xa nhau đằng đẵng của ông bà. Ông miệt mài với công việc tổ chức giao, âm thầm tham gia tờ báo hợp pháp với tên gọi Gió mới, hoạt động công khai tại nội thành Nha Trang. Khi Mỹ nguỵ tiến hành các đợt “tố cộng”, “diệt cộng”, cán bộ đảng viên ở miền Nam phải tổ chức đổi vùng để tránh bị lộ. Tổ chức đã sắp xếp để ông bà chuyển vùng hoạt động về Biên Hoà. “Lần đoàn tụ này, chúng tôi vô cùng xúc động nhưng vẫn phải giữ bí mật tuyệt đối cho cách mạng. Cũng tại Biên Hòa, vợ tôi sinh hạ đứa con gái đầu tiên và cũng là duy nhất cho đến giờ, ngay sau khi vợ sinh, tôi được tổ chức rút về lại KhánhHoà. Sau đó không lâu, vào một buổi tối giữa năm 1960, giữa lúc trời mưa tầm tã, tôi được cấp trên gọi lên trấn an tư tưởng, thăm hỏi động viên rồi thông báo tin chẳng lành, có thể vợ và con gái tôi đã bị địch giết hại trong nhà tù tại Phú Lợi (Bình Dương). Đau đớn đến bàng hoàng, sự thương cảm xót xa cứ thế trào lên. Tất cả những kỷ niệm cũ, tình yêu nghẹn ngào, những giận hờn và buổi chia tay đầy nước mắt như sống dậy xót xa, nhức nhối, tôi đã phải bật khóc nức nở và chỉ trong một giờ đồng hồ, tôi đã viết xong bài thơ Quê hương. Viết liền mạch, không tẩy xóa, không thay đổi” - Giang Nam bộc bạch sự ra đời của bài thơ Quê hương.
Tạo cảm hứng cho một đời
    Dù những ngày tháng đau khổ đã đi qua, rất lâu, nhưng mỗi lần nhắc đến những mất mát hy sinh, từ phía sau cặp kính cận, khuôn mặt Giang Nam vẫn như nặng trĩu nỗi ưu tư. Những kỷ niệm chiến trường găm sâu trong ký ức lại trỗi dậy. Ông thổ lộ rằng: “Với tôi, đau thương cũng là một sức mạnh. Sau khi làm xong bài Quê hương, tôi đưa cho cấp trên đọc, ngay lập tức nhận được sự đồng cảm. Rồi sau đó ít ngày, tôi gửi bài thơ ấy cho báo Thống Nhất ở Hà Nội. Tháng 9.1961, đang trên đường công tác ở huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa), tôi bất chợt nghe Đài Tiếng nói Việt Nam đọc bài thơ Quê hươngcủa mình và thông báo được giải Nhì báo Văn Nghệ.
    Trong giây phút vui mừng đó, tất cả hình ảnh người vợ thân yêu cùng đứa con nhỏ của mình lại ùa về. Một lần nữa tôi bật khóc. Có lẽ mỗi câu thơ trong bài Quê hương đều hàm chứa hình ảnh người vợ của tôi. Cũng từ đó, tôi lao vào làm thơ phục vụ cách mạng, làm báo tuyên truyền, cổ vũ đồng chí của mình như một nhiệm vụ cao cả” - Nhà thơ Giang Nam bồi hồi kể lại. Ngày nhận thư của nhà thơ Hoàng Trung Thông mời ra Ha Nội nhận giải, Giang Nam đau đáu trong lòng một suy nghĩ: Phải chăng những tình cảm tha thiết, chân thành, xót xa đã giúp người ta có những câu thơ hay. Cũng từ đó, ông luôn nuôi cho mình một ý thức viết một cách chân thành và tha thiết nhất. Đúng vào ngày nhận giải, nhà thơ Chế Lan Viên đã gọi Giang Nam lại và nhận xét rằng: “Cả bài thơ Quê hương của Giang Nam và Núi đôi của Vũ Cao đều nói về sự hy sinh của người con gái, của tình yêu và nỗi cách xa. Nhưng, bài Quê hươngcủa Giang Nam đau quá! Tuy bài thơ được giải Nhì nhưng sẽ có sức sống vượt thời gian”. Sau khi bài thơ Quê hương được công bố, rất nhiều cuộc mít tinh chớp nhoáng đã lấy bài thơ này ra đọc lên như một sự cổ vũ. “Lúc đó, tôi vô cùng sung sướng, thấy mình như được tiếp thêm niềm đam mê, viết không ngưng nghỉ” - Giang Nam cho biết.


    Cuộc sống luôn hàm chứa những bất ngờ, cứ đinh ninh vợ con đã bị địch giết chết nhưng giữa năm 1962, bà Chiều và con gái bất ngờ được thả về, do địch không tìm ra căn cứ kết tội. Nỗi vui mừng chưa được bao lâu, năm 1968, vợ Giang Nam lại bị địch bắt lần thứ hai cho đến mãi năm 1973 mới được thả, nhờ một luật sư giỏi bào chữa. Nhớ lại thời kỳ này, giọng ông lại nấc lên: “Suốt hai lần vào tù, ra tội, những ngày dài sống đằng đẵng trong xà lim, đứa con gái duy nhất của tôi vẫn phải bám sát lấy mẹ. Ai có tách ra nó cũng không chịu. Có những ngày bị lạnh tím tái, tưởng chừng như đã ra đi. Có lúc sợ nó nhớ tôi, vợ tôi đã trùm chiếc áo cũ tôi lên người nó. ‘Tận khổ cam lai’, giờ vợ và con tôi vẫn khỏe mạnh. Sau ngày giải phóng, tôi có đi tìm lại người luật sư bào chữa cho vợ tôi để cảm ơn nhưng không gặp”.
    Sau ngày thống nhất đất nước, năm 1976, theo điều động của tổ chức, Giang Nam vào làm việc tại TP Hồ Chí Minh. Năm 1978, chấp hành ý kiến của cấp trên, ông ra Hà Nội làm Thường trực Hội Nhà văn VN. Năm1989 (tách tỉnh Phú Khánh thành 2 tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa), Tỉnh ủy Khánh Hòa xin ông về làm phó chủ tịch UBND tỉnh - Phụ trách văn xã. Cứ tưởng rằng bước vào đường quan, cảm xúc thơ của ông sẽ giảm đi nhưng đúng như ông nói: “Có về nơi cuối trời vẫn đau đáu với quê hương, với thơ ca. Được làm việc trên quê hương của mình, được phục vụ nhân dân, lại được nhiều người quý trọng và nhớ đến bài thơ Quê hương nổi tiếng nên tôi vẫn miệt mài viết, viết cho đến hơi thở cuối cùng mới thôi”.
    Chính trong thời gian làm phó chủ tịch tỉnh, có dịp tiếp cận nhiều hơn với người dân cũng như muôn mặt của cuộc sống nên ông đã cho ra đời trường ca Sông Dinh mùa trăng khuyết. Vì cái đam mê viết nên hiện nay, dù tuổi đã cao, ông vẫn làm đại diện báo Văn Nghệ tại Khánh Hòa. 

Nhà thơ Giang Nam: Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ

        Có một thời, bạn đọc đón chờ những bài thơ từ chiến trường gửi ra của nhà thơ  Giang Nam với một tâm lý đặc biệt. Họ muốn được neo lòng mình vào cuộc chiến đấu chung của đồng bào, chiến sĩ miền Nam, muốn được vui buồn, thổn thức với những mảng hiện thực mà tác giả nhanh nhạy ghi lại từ cuộc chiến khốc liệt, một cuộc chiến có thể làm những trái tim chai sạn cũng phải trào dâng niềm thương xót bởi có quá nhiều gương mặt phụ nữ và trẻ em...

    Nhà thơ Thế Lữ, một người vốn đã ngừng làm thơ từ lâu, trong một lần nghe thơ Giang Nam qua làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam cũng đã phải nghẹn ngào nhắn gửi: "Cất cao lời nữa/ Giang Nam ơi/ Tiếng thơ anh trào nước mắt tôi". Quả thực, có một thời, thơ Giang Nam đã thành "một kênh cảm xúc chủ yếu nối tình cảm đồng bào Nam Bắc" - như nhà thơ Vũ Quần Phương từng nhận xét.
    Để làm được điều này tất nhiên không chỉ bởi tài thơ của Giang Nam. Hiện thực vĩ đại của cuộc chiến đã khiến có những tình tiết chỉ cần kể lên cũng đủ để người đọc xúc động, nhất là khi nó được "cộng hưởng" bởi cái không khí hừng hực muốn "nhập cuộc" của họ. Song cũng phải công tâm mà nói rằng, Giang Nam đã biết khai thác những tình tiết có thể đánh động trái tim nhiều người, những điều tưởng "rất thừa" mà "riêng trái tim mới hiểu" (chữ ông dùng trong bài "Hạnh phúc").
    Đọc thơ Giang Nam những năm chiến tranh, ta thấy các nhân vật chính thường là trẻ em và phụ nữ. Có lẽ, với tác giả, đây là điểm "nhấn" để phơi lộ sự vô nhân đạo của kẻ thù cũng như cho thấy nét đẹp của cuộc kháng chiến toàn dân. Bài thơ "Lá thư thành phố" làm lời người vợ gửi cho chồng ở miền Đông đất đỏ có những câu nghe thật "thương thân tủi phận": "Con nhớ anh thường đêm biếng ngủ/ Nó khóc làm em cũng khóc theo/ Anh gửi về em manh áo cũ/ Đắp cho con đỡ nhớ anh nhiều". Tủi phận nhưng vẫn cho thấy cái tế nhị của người phụ nữ Việt Nam, dẫu nhớ chồng đến đâu vẫn phải mượn con để gửi gắm tình ý của mình. Cũng vậy, nhớ chồng, muốn lên với chồng mà phải nói vòng vo qua chuyện cái kim sợi chỉ: "Em biết anh không ngừng chiến đấu/ Muôn ngàn anh, chị ở bên anh/ Bao giờ em được lên trên ấy/ Vá áo cho anh, rách lại lành!".
    Bài "Trước tờ giấy trắng" kể chuyện một người phụ nữ có chồng đi kháng chiến, bị địch bắt phải viết đơn "phản tỉnh", tức là phải từ chồng, phải nói xấu Cách mạng, nếu không muốn cả hai mẹ con bị đẩy vào nhà lao. Cuộc truy bức tinh thần diễn ra hết sức căng thẳng. Tác giả đã miêu tả cái ngột ngạt của cảnh trí tác động tới tâm lý con người qua những nét vẽ ấn tượng:
Chị ngồi trước tờ giấy trắng
Hàng giờ không viết một câu
Bóng cây ngắn dần theo nắng
Đàn trâu chậm chạp qua cầu. 
Mái tôn nóng bừng ngột ngạt
Trán con lấm tấm mồ hôi
Cổng đồn mấy tên lính gác
Đứng im như chết lâu rồi.
    Dường như với Giang Nam, ở đâu có mẹ là ở đấy có con. Hai mẹ con luôn quấn quýt, no đói có nhau. Và có con là thêm lần thử thách sự vững vàng của người mẹ. Trong trường hợp này cũng vậy, hành động vô tình của đứa bé đã đánh thức một hướng suy nghĩ trong người mẹ: "Con bé nhay nhay vú mẹ/ Bàn tay nhỏ xíu mân mê/ Chúm chím môi hồng nở hé/ Chói chang nắng lửa trưa hè".
    Người phụ nữ thấy day dứt. Ai nỡ để đứa con bé bỏng, đáng yêu nhường ấy phải chịu hệ lụy bởi sự cương cường của người lớn. Nhưng trong tình thế oái oăm, là phụ nữ, chị biết làm gì để bảo vệ con ngoài những giọt nước mắt: “Có gì cay cay trong mắt/ Có gì mằn mặn trên môi/ Không, không thể là nước mắt/ Cắn răng quyết giữ cuộc đời”.
    Đang khi người phụ nữ chuẩn bị có một hành động dứt khoát thì những kỷ niệm xưa cũ hiện về trong tâm trí chị: "Vụt hiện những ngày kháng chiến/ Giành từng góc ruộng bờ ao/ Vụt hiện những ngày trên bến/ Vẫy khăn anh bước xuống tàu". Đến đây, mạch thơ có sự chuyển đổi. Câu thơ 6 chữ với nhịp thơ mạnh mẽ, dứt khoát đã được tác giả cho chuyển sang 7 chữ, rồi thu về 6 chữ, rồi bung ra tới 8 chữ để phản ảnh tâm trạng rối bời, đan xen giữa tình chung ý riêng, nỗi thương gần và nỗi lo xa, vừa không muốn làm tổn thương tình cảm với chồng, với kháng chiến, vừa muốn đứa con bé bỏng không rơi vào vòng khổ ải. Nhưng rồi, chị giật mình như "nghe thấy" sự không đồng tình từ cô con gái: "Đôi mắt con như hờn dỗi nghẹn ngào/ Con không nói nhưng chị nghe tiếng nói/ Có thể nào như thế được mẹ ơi" và cả từ người chồng trước hành động "phản tỉnh" của mình: "Thoáng bóng ai về bên cạnh chị/ Màu áo quen quen, mắt sáng ngời/ Da sém nắng, mặt buồn nghiêm nghị/ Có thể nào như thế được em ơi".
    Chính những tiếng nói như phát ra từ tâm thức ấy đã đưa chị đi tới một hành động dứt khoát: Kiên quyết không chịu làm theo ý địch. Đây là hai câu kết của bài thơ:
Lũ quỉ ập vào dí súng bên hông
Chị vẫn ngồi nghiêm trước trang giấy trắng.
    "Trước trang giấy trắng" là một bài thơ nổi tiếng của Giang Nam những năm đấu tranh thống nhất. Giá trị "dân vận" của nó là rõ rệt. Tiếc rằng, việc phá vỡ thế ổn định của thể thơ 6 chữ ở mấy khổ cuối đã khiến câu chữ trở nên lùa thùa, chất thơ toàn bài bị giảm sút đáng kể.
    Bài thơ đầu tiên đưa tên tuổi Giang Nam ra với công chúng cả nước là bài "Quê hương". Đây cũng là bài thơ nổi tiếng nhất và có sức nặng nhất trong đời thơ của ông. Bài thơ từng được giải nhì của Báo Văn nghệ và được đưa vào sách học. Có một điều lạ không phải ai cũng biết là nguyên mẫu của bài thơ - "cô bé nhà bên/ có ai ngờ cũng vào du kích", sau bị giặc giết quăng mất xác ấy chính là người vợ hiền thục hiện vẫn sống bên nhà thơ. Về chuyện này, đích thân tác giả đã kể lại trong cuốn "Sống và viết ở chiến trường" như sau: "Đang ở căn cứ bí mật của Tỉnh ủy Khánh Hòa, tôi được Phó Bí thư Tỉnh ủy mời sang thông báo tin dữ: Vợ con tôi đã bị thủ tiêu trong nhà lao rồi (trước đó, vợ Giang Nam cùng cô con gái chưa đầy tuổi của ông bị địch bắt ở Thủ Đức và đưa vào giam ở nhà lao Chí Hòa, Sài Gòn - PK). Tôi nghe tin mà choáng váng như trời sập. Những kỷ niệm cũ, tình yêu e ấp, vụng dại, những giận hờn và buổi chia tay đầy nước mắt, cả hai mẹ con cô ấy đều khóc ròng… Tất cả như sống dậy xót xa, nhức nhối và rõ ràng cứ như mới xảy ra hôm qua.
    Tôi đã viết bài thơ Quê hương trong tâm trạng đau đớn tột cùng ấy. Rồi tôi đã gửi bài thơ ấy theo đường giao liên ra cho Báo Thống Nhất ở Hà Nội. Khoảng tháng 8 năm 1961, trên đường công tác từ huyện Sơn Khánh đi Khánh Vĩnh, khi dừng chân ở một trạm nghỉ, tôi đã được nghe tin qua Đài Tiếng nói Việt Nam là bài thơ Quê hương của tôi được giải nhì Báo Văn nghệ. Tôi mừng run lên, báo ngay cho anh em cùng đoàn công tác. Tôi như thấy vợ con tôi ở bên kia thế giới về lại cùng tôi".
    Không phải "như thấy" thôi đâu, mà là sự thật. Thì ra, thông tin vợ con Giang Nam chết trong nhà lao là không xác thực. Năm 1962, bà cùng con gái được thả và hai năm sau đó, cấp trên đã bố trí cho nhà thơ gặp mặt vợ con… Dẫu sao, từ một sự nhầm lẫn, Giang Nam đã có được một bài thơ để đời.
    Các nhà nghiên cứu văn học thường liên hệ bài thơ "Quê hương" của Giang Nam với các bài "Màu tím hoa sim" của Hữu Loan và "Núi đôi" của Vũ Cao. Cả ba bài thơ đều có chung mô típ: Các nhân vật nam chính đều đi bộ đội chiến đấu xa nhà; các nhân vật nữ chính (có thể là vợ, có thể là người yêu) thì ở lại chiến đấu hoặc công tác tại quê nhà và rồi tất cả đều ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ. Cả ba bài đều có sức hấp dẫn, lôi cuốn độc giả. Mặc dù "Quê hương" của Giang Nam không có những ý thâm thúy, những hình ảnh đặc sắc và khơi gợi như "Màu tím hoa sim" của Hữu Loan, cũng không có giai điệu tinh tế, khoáng đạt như "Núi đôi" của Vũ Cao; song nó lại có cái duyên riêng và đặc biệt, mối tình của người nữ du kích với chàng trai trong bài thơ rất mộc mạc, hồn nhiên và có nét gần gũi, phổ biến trong đời sống. Điều đó khiến bài thơ càng dễ được quảng bá.
    Đọc bài thơ, không ai là không nhớ tới tiếng cười khúc khích của cô gái, cũng như khó có thể quên được cái việc… khóc của cậu bé ở phần mở đầu bài thơ (Những ngày trốn học/ Đuổi bướm cầu ao/ Mẹ bắt được…/ Chưa đánh roi nào đã khóc!/ Có cô bé nhà bên/ Nhìn tôi cười khúc khích…). Đó chính là mấu chốt tạo nên sức ám ảnh của hình tượng, và là cái cớ để triển khai tứ thơ. Về đoạn thơ này, Hoài Thanh đã có lời bình rất tinh tế: "Khóc vì sợ đánh nhưng lại cũng vì muốn đánh vào tấm lòng của mẹ thương con mà người con rất biết".
    Với bài thơ "Quê hương", Giang Nam đã xây dựng được những nhân vật cùng những tình huống rất đáng yêu. Chính điều này đã khiến độc giả hầu như không để ý (hoặc bỏ qua) cách sử dụng ngôn từ chưa phải đã thật kín kẽ của ông. Ví như khi ông viết: "Giặc bắn em rồi, quăng mất xác/ Chỉ vì em là du kích, em ơi", đã có người đặt câu hỏi: Nếu em là du kích thì giặc bắn em là lẽ đương nhiên, sao lại nói là "chỉ vì"? Hay khi ông viết "Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm", đã có người đặt vấn đề: Có nên để chữ "yêu" bên cạnh mấy chữ dễ bị suy diễn như chữ "chim" chữ "bướm" kia không? Tất nhiên, tôi không cực đoan đến mức cho Giang Nam viết vậy là "dung tục" (như một nhà thơ từng viết bài đăng báo "kết tội" vậy), bởi một khi ta đã nhập hồn vào bài thơ, cùng chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với nhân vật thì hẳn ta sẽ không có sự xét nét câu chữ thế ấy.
    Sinh thời, nhà phê bình Hoài Thanh mặc dù thừa nhận Giang Nam có những bài thơ hay, song cũng phải nghiêm khắc nhắc nhở, là "ngòi bút của Giang Nam có khi quá dễ dãi". Ở đoạn kết bài "Quê hương", Giang Nam từng viết: "Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất/ Có một phần xương thịt của em tôi", hai chữ "xương thịt" đặt ở đây có thể không khiến bạn đọc "gai gợn" bởi dẫu sao trước đó, nhà thơ đã làm ta xúc động trước cái chết của người nữ du kích không biết địch vất xác nơi đâu, nên cái cảm giác "trong từng nắm đất/ có một phần xương thịt của em tôi" là xuất phát từ đời thực, tuy nhiên, cũng hai chữ ấy mà nhà thơ đưa vào đoạn thơ sau (bài "Gửi miền Bắc") thì quả thực là không ổn, rất không ổn:
Hà Nội ơi, máu về tụ giữa tim
Tóc Bác có bạc nhiều những đêm không ngủ?
Giặc Mỹ liệu hồn: thịt xương ta đó.
   Ưu điểm của thơ Giang Nam là có tình. Song ngoài tình thì thơ còn là nghệ thuật ngôn từ. Việc tác giả dùng từ ngữ thiếu chọn lọc trong một số trường hợp đã gây bất lợi cho việc thể hiện tình cảm của ông…

    Quê hương và nhà thơ Giang Nam

    Bài thơ Quê hương nổi tiếng của Giang Nam từng được đưa vào sách giáo khoa và bao thế hệ học trò đã thuộc lòng từng câu, từng chữ...

    Ở đó, người đọc bị cuốn hút, ám ảnh bởi những tiếng cười khúc khích thật hồn nhiên để rồi bỗng thấy hụt hẫng khi nghe tin dữ...

    Ở phần mở đầu bài thơ: Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường/Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ/“Ai bảo chăn trâu là khổ?”/Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao..., có lẽ lúc hoài niệm về thời thơ ấu, trong ký ức của tác giả đã hiện lên thấp thoáng những câu hát của... Phạm Duy: Ai bảo chăn trâu là khổ?Chăn trâu sướng lắm chứ!Ngồi mình trâu phất ngọn cờ lau và miệng hát nghêu ngao... (Em bé quê). Bởi nếu không thì tác giả đã không để câu Ai bảo chăn trâu là khổ trong ngoặc kép. Tuy nhiên, dẫu có như vậy thì câu này cũng liền mạch với một tứ thơ hết sức trong trẻo, hồn nhiên: ... Những ngày trốn học/Đuổi bướm cầu ao/Mẹ bắt được/Chưa đánh roi nào đã khóc!/Có cô bé nhà bên/Nhìn tôi cười khúc khích... Một điều chắc chắn rằng, sở dĩ bài thơ có sức hấp dẫn người đọc là bởi tuy tác giả sử dụng những câu chữ mộc mạc nhưng lại khéo dụng công ở những lần “cô bé nhà bên cười khúc khích”, tạo nên một ấn tượng khó quên...

“Cô bé” ấy là ai?

        “Cô bé” ấy tên thật là Phạm Thị Triều, sinh ra trong một gia đình có nghề làm mắm gia truyền ở Vĩnh Trường (Nha Trang). Nghề làm mắm cũng là để đóng góp kinh tài cho cách mạng. Cô bé Triều mới “trổ mã” đã theo chị gái lên căn cứ Đồng Bò. Gia đình thấy Triều còn nhỏ quá, cho người nhắn về nhưng cô nhất quyết không về. Khi mặt trận Nha Trang vỡ, Triều được điều về làm ở khối Dân chính của Tỉnh ủy Phú Khánh, đóng ở Đá Bàn. Chính nơi đây, cô đã gặp chàng trai sau này trở thành nhà thơ Giang Nam...

    Còn anh chàng Nguyễn Sung (tên thật của Giang Nam), mới 16 tuổi đã bỏ học giữa chừng vì nhà trường đóng cửa do thời cuộc (Nhật đảo chính Pháp tháng 8.1945). Cậu theo anh trai là nhà cách mạng Nguyễn Lưu tham gia Việt Minh ở mặt trận Phú Khánh. Khoảng đầu năm 1954, Nguyễn Sung được điều về căn cứ Đá Bàn và anh bộ đội trẻ đã “ngẩn ngơ” trong lần đầu gặp Phạm Thị Triều.

    Ít lâu sau anh biết thêm rằng không phải chỉ mình anh mà cả đám lính trẻ cũng thường tìm cớ này, cớ nọ để tạt vào cơ quan chỉ để... nhìn cô Triều một cái. “Bạo phổi” lắm thì cũng chỉ nói vu vơ một câu rồi... biến! Chuyện yêu đương, trai gái trong cùng tổ chức hồi ấy hầu như bị cấm nghiêm ngặt. Tuy nhiên, là một anh lính có “chút thơ văn” nên Nguyễn Sung vẫn nghĩ được cách tiếp cận người đẹp. Trước tiên, anh vận dụng khả năng thơ văn của mình để được giao nhiệm vụ chạy công văn. Và thế là mỗi lần đưa công văn đến cơ quan, anh lại kèm theo một lá thư (viết sẵn) cho nàng mà không nói năng, hỏi han gì thêm vì sợ lộ. Phải hơn một tuần sau lá thư thứ hai, anh mới “sướng rêm người” khi được nàng “ừ” (trong bức thư hồi âm)...

    Yêu nhau “kín đáo” như thế mà vẫn không giấu được ai, may mà cả anh lẫn chị đều được anh em thương mến nên trước ngày anh ra Bình Định tham gia Đoàn Sĩ quan liên bộ đình chiến, chuẩn bị cho việc ký kết Hiệp định Genève, cơ quan đã tổ chức đám cưới cho họ. Sống với nhau được hai đêm thì anh lên đường, còn chị trở lại Nha Trang... Từ buổi đó, đôi vợ chồng trẻ phải luôn chịu cảnh xa cách, gian truân...

    Sau Hiệp định Genève (tháng 7.1954), Nguyễn Sung vào hoạt động trong lòng địch, trong vai trò công nhân ở một xưởng cưa và âm thầm viết cho tờ Gió mới - là tờ báo hợp pháp ở Nha Trang. Tuy hoạt động cùng địa bàn nhưng đôi vợ chồng son vẫn không thể gặp nhau vì khác tuyến, phải tuân giữ kỷ luật khắt khe để không bị lộ... Mãi đến năm 1958, tổ chức chuyển vùng công tác cho họ vào Biên Hòa thì họ mới thật sự có những ngày hạnh phúc bên nhau, dù khoảng thời gian này cũng rất ngắn ngủi. Họ thuê một căn nhà nhỏ trong xóm lao động nghèo. Ông làm mướn cho một nhà thầu khoán, còn bà buôn bán lặt vặt...

    Một thời gian sau, tổ chức lại rút ông về lại Khánh Hòa, bà Triều ở lại một mình nuôi con. Mỗi đêm, nghe con gái khóc ngằn ngặt vì nhớ cha, bà Triều phải lấy chiếc áo cũ của chồng đắp lên người con để “có hơi của ông ấy cho nó nín khóc”. Sau này, ông đã mượn lời vợ, và mượn luôn sự cố khóc đêm của con để bày tỏ nỗi nhớ thương: Con nhớ anh thường đêm biếng ngủ/Nó khóc làm em cũng khóc theo/Anh gởi về em manh áo cũ/Đắp cho con đỡ nhớ anh nhiều... (Lá thư thành phố).

Quê hương ra đời trong hoàn cảnh nào?

    Trong hồi ký Sống và viết ở chiến trường, Giang Nam đã kể lại như sau: “Bài thơ Quê hương ra đời năm 1960, dưới chân núi Hòn Dù, cách TP.Nha Trang hơn 40 cây số về phía tây. Lúc ấy, tôi đang là Phó ban Tuyên huấn của Tỉnh ủy Khánh Hòa. Chiều hôm ấy, anh Phó bí thư Tỉnh ủy đã gọi tôi lên chỗ anh ở (một căn chòi nhỏ giữa rừng). Anh ân cần hỏi thăm tôi về tình hình công tác, sức khỏe... Tôi linh cảm thấy có điều gì không bình thường. Quả nhiên sau đó, anh nói thật: Tin của cơ sở trong thành vừa báo cho biết vợ và con gái tôi bị địch bắt trước đó hơn một năm đã bị chúng thủ tiêu... Tôi bàng hoàng, trời đất như sập xuống đầu mình... Trong nỗi đau đớn tột cùng, tôi ngồi trong căn chòi nhỏ, trước mắt là ngọn đèn dầu lù mù được che kín ba mặt, tôi đã viết một mạch xong bài thơ, không xóa sửa chút nào... Không phải tôi làm thơ mà là ghi lại những ký ức, những hình ảnh đã trở thành máu thịt trong tôi. Từng đoạn nước mắt tôi trào ra, nhất là ở hai câu cuối của bài: Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất/Có một phần xương thịt của em tôi”.

    Bài thơ được ký tên Giang Nam, bởi dạo còn đi học ông rất thích những câu thơ của Hồ Dzếnh: Tô Châu lớp lớp phủ kiều/Trăng đêm Dương Tử, mây chiều Giang Nam... Sau đó, ông gửi bài thơ theo đường giao liên cho Báo Thống Nhất (Hà Nội), vì chỉ có tờ báo này được chuyển vào chiến trường phía Nam. Khoảng tháng 8.1961, trên đường công tác qua huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa), qua chiếc radio, ông nghe Đài phát thanh Việt Nam đọc bài thơ Quê hương và thông báo bài thơ này đoạt giải nhì của Báo Văn nghệ. Trong giây phút vui mừng đó, hình ảnh thân yêu của vợ con ông lại ùa về, ông bật khóc...

    Đinh ninh là vợ con mình đã chết, Giang Nam lao vào công tác, nhất là trên mặt trận văn hóa. Bỗng giữa năm 1962, vợ con ông được thả về vì địch không tìm được chứng cứ. Sum họp chưa được bao lâu, vợ ông lại bị bắt lần thứ hai (1968), đứa con gái cứ bám riết lấy mẹ nên cũng... bị tù. Mãi đến năm 1973 họ mới được trả tự do...

    Hiện nay, đôi “bách niên - đồng chí” đều đã qua ngưỡng tuổi 80, họ vẫn hạnh phúc bên nhau trong căn nhà số 46 đường Yersin (TP.Nha Trang).

                                                                      Hà Đình Nguyên


 Mối tình chung thủy của nhà thơ Giang Nam


Sự nghiệp văn học, chính trị của ông người ta đã viết nhiều, viết chán. Nhưng, còn một điều, bao lần gặp gỡ ông vẫn khiến tôi khâm phục, ngưỡng mộ đó là mối tình chung thủy vượt muôn ngàn gian khổ của ông.
Mối tình ấy đã giúp ông có sức mạnh chống chọi những làn bom, mối tình ấy cũng giúp ông bung bật cảm xúc làm nên bài thơ “Quê hương” trong hơn một tiếng đồng hồ, mối tình ấy cũng tiếp cho ông sức mạnh giữ được thanh liêm trong nhiều năm làm Phó chủ tịch tỉnh Khánh Hòa.
Suốt cuộc đời ông chỉ yêu duy nhất một người, ở tuổi 83 nhưng lúc nào ông luôn gọi vợ bằng những từ ngọt ngào: em yêu, em thương… giống ngày son trẻ.   
“Tình yêu gắn lý tưởng có sức manh ghê gớm lắm”
Ân cần, mến khách, ông bao năm vẫn thế. Vừa thấy tôi quàng áo mưa đến cổng, ông đã gọi vợ: “Em yêu ơi, pha cho anh ấm trà gừng, khổ quá, trời mưa suốt à”. Nhìn đống bản thảo của ông, tôi biết, ông vẫn luyện trí minh mẫn cho mình bằng cách đánh vật với chữ nghĩa, những hội thảo, những trang hồi ký viết dở và… tập dưỡng sinh, làm thơ tình tặng riêng cho vợ.
Với ông, cách rèn luyện này đã mang lại cuộc sống thường ngày thư thái hơn. Biết sức khỏe ông đã yếu, tôi chỉ xin tiếp xúc một cuộc thoại ngắn xung quanh mối tình đầy cảm động của ông với bà Phạm Thị Triều.
Vầng trán đã xô dày nếp nhăn, nhíu mày mãi, ông kể: “Hồi đó, tôi giác ngộ cách mạng rất sớm, từ năm 20 tuổi, lại được người anh trai – Nhà cách mạng Nguyễn Lưu truyền cho bầu nhiệt huyết nên luôn sôi sục ý chí chiến đấu và sẵn sàng nhận nhiệm vụ.
Có năng khiếu chữ nghĩa nên khi vào hoạt động cách mạng, tôi được giao nhiệm vụ tuyên huấn. Cũng từ những ngày làm tuyên huấn đó, tôi đã quen và thầm thương, trộm nhớ bà Phạm Thị Triều”. Chiến tranh khắc nghiệt nhưng tình yêu bung nở một cách giản dị và có sức gắn kết bền chặt đến phi thường.
“Cùng làm ở cơ quan dân chính Phú Khánh, hồi đó, tôi rất thích vợ tôi, nhưng xung quanh cô ấy lại có rất nhiều người theo đuổi nên chỉ còn cách mỗi lần đến đưa công văn, gửi cho cô ấy một lá thư chứ không dám đến hỏi thêm gì.
Viết thư cũng chỉ dám hỏi mấy câu đơn giản như: anh có ý thích em, nhiều đêm anh hay nhớ em, em nghĩ thế nào?. Nhớ nhất là trong một lần, mới quen nhau thôi nhưng nhớ đến day dứt, tôi thức trắng đêm và viết cho Triều một lá thư, để dưới đáy sắp công văn. Chẳng biết Triều có nhận được không nhưng về nhà, lòng lúc nào cũng bồn chồn không yên”.
Con tim dường như có lý lẽ riêng, cũng từ đó Giang Nam quyết chí phải làm việc thật tốt để không phụ lòng cấp trên cũng vừa để lấy lòng bà Triều.
“Mình nhà nghèo mà, lại là anh lính quèn nữa, chỉ biết chút ít thơ ca thôi nên đôi lúc cũng tự ti lắm nhưng không thôi ý nghĩ nhớ đến Triều được. Tuy nhiên lý tưởng cách mạng luôn nung nấu trong tâm can tôi”- Giang Nam tâm sự.
Sau những lá thư đầy thẹn thùng, e ấp, ngóng trông, sau bao bồn chồn chờ đợi suốt 2 tuần lễ, cuối cùng, Giang Nam cũng nhận được hồi âm: “Em cũng thích anh”. Từ đó họ bắt đầu một tình yêu chung thủy và tin tưởng đến kỳ lạ.
Kỳ lạ đến nỗi, chính họ cũng không lý giải nổi. Vén những lọn tóc bạc, bà Triều ngồi trầm ngâm. Hình ảnh của bà gợi tôi nhớ những bà mẹ quê xưa, tần tảo, cam chịu, thủy chung, hy sinh, tháo vát. Nhấp một ngụm trà nóng, bà kể:
“Tôi nhà cũng nghèo nhưng có truyền thống cách mạng lắm. Từ nhỏ đã khát khao được đi làm cách mạng rồi. Tôi mến và nhận lời yêu anh Nam cũng vì cái lý tưởng của anh ấy. Tình yêu gắn với lý tưởng thì có sức mạnh ghê gớm lắm.
Với lại anh ấy cũng hiền lành, chăm chỉ. 16 tuổi, tôi đã hoạt động du kích ở căn cứ Đồng Bò, gia đình ngăn cấm, tôi cũng vẫn xin đi bằng được. Khi mặt trận Nha Trang bị quân địch càn quét mạnh quá, tôi lên Đá Bàn làm ở Văn phòng Tỉnh ủy.
Lúc đó, anh Nam làm ở ty thông tin, sau này là báo Thắng nhưng mỗi lần gặp nhau, anh Nam vẫn kể về lý tưởng cách mạng của mình, tôi thích. Cả nhà anh ấy cũng đều theo cách mạng như nhà tôi nên thấy có nhiều điểm đồng cảm và cảm giác gần gũi lúc nào không hay”.
Cùng ở khối cơ quan Quân Dân Chính Đảng, thường xuyên được giáp mặt nhau nhưng cũng chỉ dám liếc nhìn chứ không nói chuyện riêng được lâu. Vì cái thời đó, cách mạng là trên hết. Cho đến ngày, Giang Nam có tên trong danh sách đi chiến trường.
Thấy tình cảm cao đẹp của hai người đã chín muồi nên tổ chức đã gọi Giang Nam đến và nói: “Nếu yêu rồi thì phải xác định gắn với cách mạng, tình yêu của người lính phải luôn cao cả”. Niềm vui như vỡ òa, Giang Nam về tất bật chuẩn bị và nhờ tổ chức đứng ra chủ trì cho hôn nhân của ông.
Sau đêm tân hôn đúng 2 ngày (vào đầu năm 1955), Giang Nam phải nhận nhiệm vụ mới ở Bình Định. Đây cũng là cái mốc đánh dấu cho những chuỗi ngày xa nhau đằng đẵng của ông bà. Ông miệt mài với công việc tổ chức giao nhận các thư mật, âm thầm tham gia tờ báo hợp pháp với tên gọi “Gió mới” hoạt động công khai tại nội thành Nha Trang.
Cảm xúc chủ đạo làm nên bài thơ “Quê Hương”
Ngày chia tay, bà Triều tặng cho Giang Nam chiếc khăn tay và lá thư với lời nhắn nhủ ngắn gọn: “Hãy giữ gìn sức khỏe, tình yêu của em luôn trọn vẹn cho anh, mãi mãi là vậy và lớn thêm. Anh hãy sống cho lý tưởng cách mạng trước chứ đừng lo nghĩ cho em nhiều. Dù có bất cứ điều gì xảy ra, em cũng một lòng đợi anh, chung thủy với anh”.
Lao vào hoạt động báo chí cách mạng, không quản ngày đêm, chính những lúc mệt mỏi ông lại đem lá thư của bà Triều ra đọc. Ông bảo: “Có lúc nhớ đến quay quắt, càng nhớ bao nhiều càng muốn đánh cho quân địch cút đi bấy nhiều. Chỉ có sạch bóng quân xâm lược thì tình yêu riêng tư mới trọn vẹn được.
Có những đêm thức trắng làm báo cho kịp chuyển vào các mặt trận, tôi lại mang lá thư vừa là tình cảm vừa là sự động viên của Triều để đọc cho có thêm sức mạnh tinh thần. Có một người vợ như thế chẳng còn gì ngăn bước được tôi làm cách mạng cả.
Có tuần tôi viết hàng chục bài thơ tuyên truyền kháng chiến, quân giặc điên tiết lùng sục nhưng vẫn không tài nào phát hiện được”. Mỗi lần có điều kiện, Giang Nam cũng chỉ ghi được mảnh giấy nhỏ gửi cho bà Triều để vơi bớt nỗi nhớ mong. Nhưng, thời “bom rơi đạn lạc” có lúc lời nhắn đến, có lúc mãi bặt tăm.  
Khi Mỹ - nguỵ tiến hành các đợt “tố cộng”, “diệt cộng” cán bộ Đảng viên ở miền Nam phải tổ chức đổi vùng để tránh bị lộ. Tổ chức đã sắp xếp để ông bà cùng chuyển vùng hoạt động về Biên Hoà.
Cơn mưa Nha Trang đổ nặng hạt hơn, bà Triều đưa tay quẹt hai dòng nước mắt vừa trộm bò xuống. Kỷ niệm hóa thành nỗi niềm, bà rưng rưng: “Anh ạ, có người phụ nữ nào lại không thích gần chồng nhưng nếu vì tình yêu riêng này thì ích kỷ quá, phải không?.
Bao đêm con khóc, nhớ chồng cũng chỉ biết đắp cái áo của anh Nam lên người con thôi. Nhà tôi đã có nhiều người theo cách mạng, thuộc diện phải ở nhà nhưng không được góp sức đánh giặc lòng tôi bứt rứt lắm”.
Bao lần bị giặc bắt và tra khảo nhưng bà Triều vẫn cắn răng chịu đựng tuyệt đối không khai việc mình làm giao liên cho cách mạng. Đứa con là kết tinh tình yêu của ông bà cũng chịu không ít khổ ải.
“Tôi luôn nghĩ chồng và con là tình yêu trọn vẹn nên dù địch bắt, tôi cũng bồng con theo”. Cuối năm 1959, không làm gì được bà Triều, địch bắt giam cả hai mẹ con vào phòng giam lạnh lẽo, đầy ẩm ướt.  
Bị địch biệt giam, vợ chồng mất liên lạc nhau, tổ chức cũng không liên lạc được, ông kể: “Một buổi tối giữa năm 1960, giữa lúc trời mưa tầm tã, tôi được cấp trên gọi lên trấn an tư tưởng, thăm hỏi động viên rồi thông báo tin chẳng lành có thể vợ và con gái tôi đã bị địch giết hại trong nhà tù tại Phú Lợi (Sài Gòn) vì chúng đang rất điên tiết vì những hoạt động bí mật của em Triều mà không bắt em khai ra được điều gì.
Đau đớn đến bàng hoàng, sự thương cảm xót xa cứ thế trào lên. Tất cả những kỷ niệm cũ, tình yêu nghẹn ngào, những giận hờn và buổi chia tay đầy nước mắt như sống dậy xót xa, nhức nhối, cồn cào, buốt nhói, tôi đã phải bật khóc nức nở và gọi tên Triều cho đến lúc mệt lả.
Cảm giác như mình vừa mất đi điều thiêng liêng, to lớn nhất. Và chỉ trong một giờ đồng hồ tôi đã viết xong bài thơ “Quê hương”. Viết liền mạch, không tẩy xóa, không thay đổi”- Giang Nam bồi hồi nhớ lại.
Sinh ly tử biệt vẫn nguyên vẹn niềm tin
Dù những ngày tháng đau khổ đã đi qua, rất lâu, nhưng, mỗi lần nhắc đến những mất mát hy sinh, khuôn mặt Giang Nam vẫn như nặng trĩu nỗi ưu tư. Những kỷ niệm chiến trường găm sâu trong ký ức lại đua nhau trỗi dậy.
Ông thổ lộ rằng: “Với tôi, đau thương cũng là một sức mạnh. Sau khi làm xong bài “Quê hương”, tôi đưa cho cấp trên đọc, ngay lập tức, nhận được sự đồng cảm. Rồi, sau đó ít ngày, tôi gửi bài thơ ấy cho báo Thống Nhất (tiền thân của báo Văn Nghệ) ở Hà Nội.
Tháng 9/1961, đang trên đường công tác ở huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa), tôi bất chợt nghe Đài Tiếng nói Việt Nam đọc bài thơ “Quê hương” của mình và thông báo được giải nhì báo Văn Nghệ. Trong giây phút vui mừng đó, tất cả hình ảnh người vợ thân yêu cùng đứa con nhỏ của mình lại ùa về.
Một lần nữa, tôi bật khóc suốt cả buổi chiều. Mọi nỗi nhớ trỗi dậy quặn thắt. Có lẽ mỗi câu thơ trong bài “Quê hương” đều hàm chứa hình ảnh người vợ của tôi. Cũng từ đó, tôi lao vào làm thơ phục vụ cách mạng, làm báo tuyên truyền cổ vũ đồng chí của mình như một nhiệm vụ cao cả, chẳng có gì ngăn cản được tôi.
Luôn nhủ với lòng mình nếu không chiến đấu đến cùng thì hổ thẹn với em Triều và con gái của mình quá. Những câu thơ như: “Giặc bắn em rồi quăng mất xác/ Chỉ vì em là du kích em ơi/ Đau xé lòng anh chết nửa con người…” viết về em Triều luôn canh cánh trong mỗi bước đường tôi đi”.
Ngày nhận thư của nhà thơ Hoàng Trung Thông mời ra Hà Nội nhận giải, Giang Nam đau đáu trong mình một suy nghĩ: Phải chăng những tình cảm tha thiết, chân thành, xót xa đã giúp người ta có những câu thơ hay.
Cũng từ đó, ông luôn nuôi cho mình một ý thức viết một cách chân thành và tha thiết nhất. Đúng vào ngày nhận giải, nhà thơ Chế Lan Viên đã gọi Giang Nam lại và nhận xét rằng: “Cả bài thơ “Quê hương” của Giang Nam và “Núi đôi” của Vũ Cao  đều nói về sự hy sinh của người con gái, của tình yêu và nỗi cách xa. Nhưng, bài “Quê hương” của Giang Nam đau quá, quằn quại quá.
Không có một tình yêu lớn thì không thể có được cảm xúc đó. Tuy bài thơ được giải nhì nhưng sẽ có sức sống vượt thời gian”. Sau khi bài thơ “Quê hương” được công bố, rất nhiều cuộc mít tinh chớp nhoáng đã lấy bài thơ này ra đọc lên như một sự cổ vũ. “Lúc đó, tôi vô cùng sung sướng, thấy mình như được tiếp thêm niềm đam mê, viết không ngưng nghỉ” - Giang Nam kể.
Cuộc sống luôn hàm chứa nhiều điều bất ngờ. Sau khi bắt biệt giam gần 3 năm trời nhưng không tìm ra chứng cứ kết tội, lại được một luật sư bào chữa miễn phí nên quân địch bắt buộc phải thả bà Triều. Nhớ như in những ngày kham khổ đó, bà Triều vừa nấc nghẹn, vừa kể:
“Chúng đã dùng đủ các loại hình tra tấn, cả vào đứa con nhỏ của tôi nhưng tôi quyết không khai. Lúc đó, có một ý nghĩ nếu khai là hèn, là có tội với tình yêu của anh Nam, dù đau đớn đến xé lòng khi nhìn đứa con thơ bị giặc hành hạ”.
Khâm phục trước ý trí kiên cường của bà Triều, tổ chức đã sắp xếp cho ông bà gặp nhau. Đoàn tụ trong nước mắt, đêm đó họ thức trắng bên nhau. Nhưng cũng giống lần trước, bên nhau được mấy ngày, tổ chức lại điều Giang Nam lên Ban Tuyên huấn Khu đóng ở vùng giáp ranh hai tỉnh Đắk Lắk và Tuyên Đức.
“Lần chia tay này, tôi chỉ còn được 37 kg, anh Nam cứ nhìn ái ngại nhưng tôi vẫn kiên quyết nói, nếu không tròn nhiệm vụ với cách mạng thì tôi càng đau khổ hơn. Thế là lại chia ly.
Tổ chức cách mạng khuyên tôi nên ở nhà chăm con nhưng lý tưởng không cho phép nên sức khỏe bình phục, tôi lại hoạt động trở lại”. Về hoạt động căn cứ mới, nhiều người đã biết tiếng Giang Nam qua bài thơ “Quê hương” và muốn tiến đến với ông nhưng ông vẫn giữ trọn tình chung thủy với và Triều.
Vì bị giặc theo dõi quá gắt gao nên hoạt động cách mạng lại chưa được bao lâu, năm 1968, vợ và con Giang Nam lại bị địch bắt lần thứ hai cho đến mãi năm 1973 mới được thả về cũng nhờ sự bào chữa của một luật sư.
Nhắc đến thời kỳ này, giọng ông lại nấc lên: “Suốt 2 lần vào tù, ra tội, những ngày dài sống đằng đẵng trong xà lim, đứa con gái duy nhất của tôi vẫn phải bám sát lấy mẹ. Ai có tách ra nó cũng không chịu.
Có những ngày bị lạnh tím tái tưởng chừng như đã ra đi. Có lúc nhớ tôi, vợ và con chỉ biết ôm nhau khóc. “Tận khổ cam lai”, may thay, giờ vợ và con tôi vẫn khỏe mạnh. 
Lần ra tù thứ hai cũng nhờ nhiều vào một người luật sự, họ bào chữa một cách vô tư. Lúc vợ đang trong tù chưa biết tin tức gì, nhiều người đã khuyên tôi nên lấy người khác nhưng tình yêu của tôi đã dành trọn cho em Triều từ lâu”.
Ấm áp, bình dị tuổi xế chiều.
Bây giờ sức khỏe của cả ông Nam, bà Triều như chuyến tàu đang trượt dần về ga cuối, nhưng họ vẫn hâm nóng hạnh phúc cho mình bằng những kỷ niệm về tình yêu duy nhất họ đã có với nhau.
Bao năm sau ngày đất nước giải phóng, cuộc sống đẩy đưa, nhiều đổi thay, đôi lúc ông Nam vẫn đau đáu thế sự, đó là tâm thế của người quá yêu, quá trăn trở cuộc sống này. Những lúc như thế, bà Triều lại xoa dịu và thỏ thẻ vào tai ông: “Hãy bình tĩnh đi anh, cuộc đời mà”.
Mỗi lần nhìn ông, từ tận sâu đáy mắt vẫn ừng ực nỗi quặn thắt. Có lần ông ôm ngực thốt ra: “Sao tình yêu bây giờ cũng giành giật, toan tính, cuộc sống cũng toan tính. Làm văn nghệ cũng toan tính, chỉ trực hưởng thụ.
Tôi quan niệm làm văn nghệ, lãnh đạo văn nghệ là phải phát hiện ra cái mới, phải đi tìm, nuôi dưỡng và bảo vệ những người sáng tạo đích thực chứ không phải đến ngồi tán gẫu nhau cho sung sướng rồi hưởng lương, rồi đấu đá, thế thì buồn lắm…”.
Dễ hiểu với nỗi thế sự của ông, tôi bảo: “Bây giờ hãy xem chuyện đó là một khía cạnh của cuộc sống, rồi sẽ có lúc điều chỉnh lại thôi”. Bà Triều tinh ý, chạy lại nắm chặt tay ông bảo: “Anh ơi, đừng giận, bệnh tim lại tái phát mất”. Những lúc thế này càng thấy cái hạnh phúc tuyệt diệu của “tình già”.   
Lớn tuổi thường luyến tiếc kỷ niệm, đôi khi lại thích ồn ào. Nhưng với bà Triều thì lúc nào cũng vậy, chầm chậm, xem mọi thứ như một lẽ thường tình phải xảy ra như thế. Đó là cái cách ứng xử của người đã nếm trải quá nhiều đau đớn của cuộc sống.
Kéo tôi ra mái hiên trước nhà, bà tâm sự: “Cuộc sống luôn có biến đổi. Chỉ có tình cảm được vun đắp may ra mới bền lâu. Ông ấy mổ tim mấy lần rồi, một phần cũng vì nghĩ đến thế sự quá nhiều. Những lúc như thế tôi phải luôn bên cạnh để “dỗ ngọt” ông ấy đấy”.
Sau giải phóng, có điều kiện, nhiều lần vợ chồng Giang Nam đã tìm người luật sư đã bào chữa miễn phí cho bà Triều để cảm ơn nhưng không gặp được.

Quê hương của Giang Nam - Ngỡ mất vợ, có bài thơ hay da diết

    Năm 1960, trên chiến khu ở Khánh Hoà, Giang Nam nhận được tin dữ, đau xé lòng: Vợ anh (chị Phạm Thị Chiều) và con gái đầu lòng của anh chị mới hơn một tuổi (cháu Trang) đã bị Mỹ - nguỵ sát hại trong tù. Bài thơ Quê hương của Giang Nam ra đời trong hoàn cảnh ấy. Viết liền mạch. Đúng là tâm trạng: “Đau xé lòng anh, chết nửa con người!”. Viết xong, Giang Nam trình lên đồng chí Nguyễn Xuân Hữu (Bảy Hữu), Bí thư Tỉnh ủy Khánh Hoà hồi đó, “xin ý kiến”. Anh Bảy trầm ngâm: “Hay lắm! Nhưng hơi buồn... Cậu ráng giữ tinh thần và ý chí tiến công. Hy sinh, mất mát là chuyện bình thường trong chiến tranh. Mình tin vào Giang Nam lắm đó!”. Bản thảo bài thơ theo đường giao liên Trường Sơn đi dần ra Bắc. Mãi 11 tháng sau, vào năm 1961, Giang Nam mới được đọc bài thơ Quê hương in trên báo Văn nghệ gửi từ Hà Nội vào. Tác giả nhận ngay được giải nhì về thơ. Bởi nó rất hay, hay đến thật lòng, hay da diết. Nhưng, số phận không chỉ mỉm cười riêng với thơ. Năm sau (1962), có ai ngờ, vợ con anh vẫn còn sống và thoát ra khỏi ngục tù của Mỹ - ngụy. Năm 1964, tổ chức bố trí cho chị Chiều và cháu Trang từ Sài Gòn - Chợ Lớn lên thăm anh ở căn cứ Trung ương Cục. Song, một lần nữa, thật nghiệt ngã, chị cùng con gái lại bị địch bắt bên dòng sông Vàm Cỏ Đông. Lần này, chị và cháu ở tù cùng với chị Châu (vợ anh Lê Hồng Tư, tức chị X. trong tác phẩm “Sống như anh” của Trần Đình Vân), chị Quyên (vợ liệt sĩ - Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi) và một số đồng chí nữ trung kiên khác. Hơn 10 năm sau, khoảng giữa năm 1973, anh chị và cháu gái mới lại được gặp nhau. Ngỡ không thể nhận ra được nhau nữa, ngay trên Củ Chi - đất thép Thành Đồng.

    Chiến tranh, cả những hy sinh, mất mát đã lùi xa. Nhưng, bài thơ Quê hương vẫn da diết đọng lại trong tâm khảm người đọc nhiều thế hệ. Mãi đến năm 1998, nhớ chuyện cũ, Giang Nam vẫn còn viết: “… Ôi con cò, con vạc. Nhớ thương bay mãi đến bây giờ…”. Tuổi mới yêu - dù ở thế hệ nào - rồi cũng bắt nhịp được trái tim mình vào tứ thơ “cười khúc khích” - “vẫn khúc khích cười, khi tôi hỏi nhỏ”. Quả thật, đời thường và sự nghiệp của anh đều hạnh phúc. Chỉ riêng một bài thơ như vậy, dường như cũng đã nói đủ về Giang Nam…
Những cuốn sách hay nên đọc - Bấm vào đây
Thống kê điểm chuẩn lớp 10 nhiều năm - Bấm vào đây
Tải SKKN=Tài liệu - Bấm vào đây

loading...

0 comments Blogger 0 Facebook

Post a Comment



 
Sach hay, Top 10 hay nhat, NCKHSPUD, SKKN, Hoi dap ©Email: tailieuchogiaovien@gmail.com. All Rights Reserved. Powered by >How to best
Link:Bantintuvan|tailieusupham|khoahocsupham|SKKN hay|Soidiemchontruong|dayvahoctot|diemthivao10hoctrenmobile|tradiemthituyensinh|Travel - Du lịch
Lớp 9: Ngữ văn | Toán | Tiếng Anh |Lịch sử |Địa lí | GDCD |
Trắc nghiệm lớp 9: Lịch sử
Lớp 12Ngữ văn|Toán|Tiếng Anh| Hóa học | Sinh học | Vật lí |Lịch sử|Địa lí|GDCD|
Top