Soạn văn: BẾP LỬA - Bằng Việt - Sach hay, Top 10 hay nhat, NCKHSPUD, SKKN, Hoi dap


Máy trợ giảng giá rẻ -> Bấm vào đây ...Chọn quà tặng thầy cô ý nghĩa==> Bấm vào đây ...

Máy trợ giảng giá rẻ, Bấm vào đây
Cho tóc luôn dày và mượt - ngăn rụng tọc - giữ thanh xuân, Bấm vào đây
Bài thơ Bếp lửa được sáng tác năm 1963, khi tác giả đang là sinh viên học ngành Luật ở nước ngoài. Bài thơ được đưa vào tập “Hương cây – Bếp lửa” (1968), tập thơ đầu tay của Bằng Việt và Lưu Quang Vũ.

Bếp lửa là niềm hồi tưởng xúc động của nhà thơ về hình ảnh bếp lửa quen thuộc, gần gũi và hình ảnh người bà hiền hậu. Những năm đầu theo học luật tại Kiep, nước Nga, từ xa tổ quốc, nhà thơ nhớ đến quê nhà da diết. Tháng 9 ở bên đó trời se se lạnh, buổi sáng sương khói thường bay mờ mờ mặt đất, ngoài cửa sổ, trên các vòm cây, gợi nhớ cảnh mùa đông ở quê nhà. Mỗi buổi dạy sớm đi học, nhà thơ hay nhớ đến khung cảnh một bếp lửa thân quen, nhớ lại hình ảnh bà nội lụi cụi dạy sớm nấu nồi xôi, luộc củ khoai, củ sắn cho cả nhà. Từ đó khơi gợi nguồn cảm hứng để nhà thơ viết nên bài thơ này.


Qua hình ảnh Bếp lửa – ngọn lửa, tác giả thể hiện lòng thương nhớ, kính yêu và biết ơn bà của đứa cháu đi xa, đồng thời nói lên tình yêu tha thiết đối với gia đình, quê hương, đất nước.
Tác giả:
   Bằng Việt tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng nguyên quán xã Chàng Sơn, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây ( nay là thành phố Hà Nội). Ông sinh ngày 15/6/1941 tại phường Phú Cát, thành phố Huế nhưng sống ở Hà Tây, học trung học ở Hà Nội. Ông tốt nghiệp khoa Pháp lí, trường Đại học Tổng hợp Kiev ( thuộc Liên Xô cũ).

-Bằng Việt là nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
- Bằng Việt là một trong những nhà thơ tiêu biểu trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ với nhiều tác phẩm hay, sâu sắc, để lại ấn tượng khó quên trong lòng người đọc. “Bếp lửa” là một bài thơ như thế.

3.Tác phẩm:

Bài thơ được sáng năm 1963, khi tác giả đang học ngành Luật ở nước ngoài.
Bài thơ được đưa vào tập Hương cây – Bếp lửa (1968), tập thơ đầu tay của Bằng Việt và Lưu Quang Vũ.
   Bằng Việt làm thơ từ đầu những năm 60 và là một trong những nhà thơ tiêu biểu thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mỹ. Ông từng giữ nhiều chức vụ quan trọng của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội… và là một trong những người sáng lập tờ báo văn nghệ Người Hà Nội ( xuất bản từ năm 1985).
   Bằng Việt có bài thơ đầu tay được công bố rộng rãi là Qua Trường Sa viết năm 1961. Ông đã thể hiện nhiều loại thơ không vần, tất cả các hình thức đã có trong thơ Việt Nam và thơ thế giới. Ngoài sáng tác thơ, Bằng Việt còn dịch thơ và biên soạn một số từ điển văn học. Song song đó, ông vẫn theo nghề luật cho đến khi thôi nhiệm kì cuối cùng ở Hội đồng Nhân dân thành phố năm 2000.
Trẻ trung, hồn nhiên, tài hoa là nét đặc sắc nổi bật trong hồn thơ Bằng Việt. Thơ ông nhẹ nhàng, có cảm xúc tinh tế, giọng điệu tâm tình, trầm lắng, suy tư và giàu triết lí.

   Tập thơ đầu tay “Hương cây-Bếp lửa” cùng với Lưu Quang Vũ xuất bản lần đầu tiên năm 1968. Sau đó, ông có nhiều tập thơ nổi tiếng: Những gương măt – Những khoảng trời (1973); Đất sau mưa (1977); Khoảng cách giữa lời (1984); Cát sáng (1985) in chung cùng Vũ Quần Phương; Bếp lửa – Khoảng trời (1986); Ném câu thơ vào gió (2001)….

   Với những đóng góp lớn lao cho nền văn học nước nhà trong giai đoạn kháng chiến chống Mĩ và giai đoạn sau đó, Bằng Việt đã nhận được nhiều giải thưởng văn học cả trong nước và quốc tế.


Đọc-hiểu văn bản:

1.Nội dung:
BẾP LỬA 
 Bằng Việt
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa!

Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi,
Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy,
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!

Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà?
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế.
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
Mẹ cùng cha công tác bận không về,
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học,
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà,
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?

Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:
“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ,
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”

Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen,
Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn,
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng...

Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm,
Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi,
Nhóm niềm xôi gạo mới, sẻ chung vui,
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ...
Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa!

Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu,
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả,
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
- Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?...
Kiev, 1963

Nguồn:
1. Hương cây – Bếp lửa, NXB Văn học, 1968
2. Bếp lửa, NXB Văn học, 2005
3. Bằng Việt, tác phẩm chọn lọc, NXB Hội Nhà văn, 2010


a. Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cho dòng hồi tưởng cảm xúc về bà:
-“Bếp lửa chờn vờn sương sớm…ấp iu…nồng đượm”: là hình ảnh gần gũi, quen thuộc trong mỗi gia đình với bàn tay kiên nhẫn, khéo léo, chi chút của người bà. Để rồi tác giả nhớ thương về bà với một thời dãi dầu mưa nắng.
b.Hình ảnh người bà và những kỉ niệm tình bà cháu trong hồi tưởng của tác giả:
-“Lên bốn tuổi…con cay”: gợi lại cả một thời ấu thơ bên người bà. Tuổi thơ đầy gian khổ, thiếu thốn, nhọc nhằn.


-Bà hay kể, bà bảo cháu nghe, bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học: thay cha mẹ, bà chăm lo cho cháu từng chút một; bà-cháu gắn bó sống bên nhau với bao điều khổ cực.
-“Rồi….dai dẳng…”: Bếp lửa hiện diện cho tình bà ấm áp, như chỗ dựa tinh thần, như sự cưu mang đùm bọc đầy tình thương của bà.
-“Lận đận…nồng đượm”: sự tảo tần, đức hi sinh chăm lo cho mọi người của bà. Nhóm bếp lửa buổi sớm mai, bà nhóm lên niềm yêu thương, “Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”. Chính vì vậy mà nhà thơ đã cảm nhận “Ôi kì lạ và thiêng liêng-bếp lửa!”: bình dị mà thân thuộc, sự kì diệu thiêng liêng.
c.Hình ảnh ngọn lửa và tình cảm thấm thía của tác giả đối với người bà:
“Có ngọn…chưa?”: bếp lửa của bà đã bùng lên cho cháu ngọn lửa ước mơ, trưởng thành. Tác giả vẫn mãi nhớ về bà, nhớ về gia đình, quê hương.
2.Nghệ thuật:
-Xây dựng hình ảnh thơ vừa cụ thể, gần gũi, vừa gợi nhiều liên tưởng, mang ý nghĩa biểu tượng.
-Viết theo thể thơ tám chữ phù hợp với giọng điệu cảm xúc hồi tưởng và suy ngẫm.
-Kết hợp nhuần nhuyễn giữa miêu tả, tự sự, nghị luận và biểu cảm.
3.Ý nghĩa văn bản:
Từ những kỉ niệm tuổi thơ ấm áp tình bà cháu, nhà thơ cho ta hiểu thêm về những người bà, người mẹ, về nhân dân nghĩa tình.

Trả lời câu hỏi SGK
1. Bài thơ là lời của nhân vật nào, nói về ai và về điều gì? Dựa vào mạch tâm trạng của nhân vật trữ tình, em hãy nêu bố cục của bài thơ.
Trả lời:

- Bài thơ là lời của người cháu nói về bà, nói về tình yêu thương tha thiết mà bà đã giành cho cháu trong những ngày gian khổ.

- Bố cục:

+ Ba dòng thơ đầu: Hình ảnh bếp lửa đã khơi nguồn cho dòng hồi tưởng, cảm xúc về bà.

+ Bốn khổ thơ tiếp theo (từ Lên bốn tuổi đến Chứa niềm tin dai dẳng): Hồi tưởng những kỷ niệm tuổi thơ sống bên bà và hình ảnh bà gắn liền với hình ảnh bếp lửa.

+ Hai khổ thơ tiếp theo (từ Lận đận đời bà đến thiêng liên – bếp lửa): Suy ngẫm về bà và cuộc đời bà.

+ Khổ cuối: Cháu đã trưởng thành, đã đi xa nhưng không nguôi nhớ về bà.

2. Trong hồi tưởng của người cháu, những kỉ niệm nào về bà và tình bà cháu đã được gợi lại? Em hãy chỉ ra sự kết hợp giữa biểu cảm với miêu tả, tự sự, bình luận trong bài thơ và tác dụng của sự kết hợp ấy?

Trả lời:

Trong hồi tưởng của người cháu biết bao kỷ niệm thân thương đã được gợi lại:

- Năm lên bốn tuổi là năm đói kém, nhọc nhằn (1945). Nạn đói năm ấy đã trở thành bóng đen ghê rợn ám ảnh cháu.

- Tám năm ở cùng bà khi che mẹ bận công tác, bà dạy cháu học, dạy cháu làm, bà kể chuyện cháu nghe, chia sẻ với cháu nỗi vắng mẹ, cặm cụi nhóm lửa, nuôi nấng cháu.

- Năm giặc đốt làng, đốt nhà, bà vẫn vững lòng dặn cháu giữ kín chuyện để bố mẹ yên tâm công tác, bà vẫn sớm chiều nhen nhóm ngọn lửa ủ ấm lòng cháu. Kỷ niệm nào về bà cũng thấm đậm yêu thương.

Bài thơ đan xen giữa kể là những đoạn tả sinh động, tả cảnh bếp lửa chờn vờn trong sương sớm, tả cảnh đói mòn đói mỏi, cảnh làng cháy, đặc biệt là hình ảnh cặm cụi, tần tảo sớm hôm của bà… Lời kể và tả chứa chan tình yêu thương, lòng yêu ơn của người cháu nơi xa đối với bà.

3. Phân tích hình ảnh bếp lửa trong bài thơ. Hình ảnh bếp lửa được nhắc đến bao nhiêu lần? Tại sao khi nhắc đến bếp lửa là người cháu lại nhớ đến bà, và ngược lại, khi nhớ về bà là nhớ ngay đến hình ảnh bếp lửa? Hình ảnh ấy mang ý nghĩa gì trong bài thơ này? Vì sao tác giả lại viết "Ôi kì lạ và thiêng liêng bếp lửa"?

Trả lời:

- Hình ảnh bếp lửa có suốt trong những vần thơ của bài thơ . Hình ảnh bếp lửa được nhắc tới 10 lần .

- Vì hình ảnh bếp lửa đã trở thành biểu tượng do hằng ngày bà luôn nhóm lửa nấu vào mỗi sáng . Bà là người đã thắp sáng tình cảm, tình yêu thương khi nhóm bếp lửa lên, tác giả đã dựa vào đó để gửi gắm tình cảm cảm xúc của mình là tình cảm thiêng liêng giữa bà và cháu.

4. Vì sao ở hai câu dưới tác giả dùng từ "ngọn lửa" mà không nhắc lại "bếp lửa"? Ngọn lửa ở đây có ý nghĩa gì? Em hiểu những câu thơ trên như thế nào?

Trả lời:

- Ở hai câu dưới, tác giả dùng từ “ngọn lửa” mà không nhắc lại “bếp lửa”. Vì nói đến “bếp lửa” là nói đến một vật hữu hình, cụ thể của mỗi gia đình. Còn hình ảnh “ngọn lửa” mang ý nghĩa khái quát, rộng lớn hơn.



- Mỗi lần nhóm bếp lửa, ngọn lửa cháy sáng lên mang nhiều ý nghĩa tượng trưng. Đó là ngọn lửa được nhóm từ lòng bà – ngọn lửa của sức sống, yêu thương, niềm tin, tình yêu của bà với kháng chiến, với Đảng. Bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa – truyền cho cháu những kỉ niệm ấm lòng, những niềm tin thiêng liêng, kì diệu nâng bước cháu trên suốt hành trình dài rộng của cuộc đời.

5. Cảm nhận của em về tình cảm bà cháu được thể hiện trong bài thơ. Tình cảm ấy được gắn liền với những tình cảm nào khác.

Trả lời:

- Tình cảm bà cháu trong bài thơ rất sâu nặng. Đây là lời yêu thương tha thiết của người cháu nơi xa đối với bà:

"Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu

Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả

Nhưng vẫn chẳng lức nào quên nhắc nhở:

- Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?..."

- Tình cảm ấy vượt qua chiều dài của thời gian, chiều rộng của không gian, neo đậu mãi trong trái tim cháu. Tuổi thơ của cháu đã đi qua theo năm tháng, khoảng cách giữa bà và cháu cũng đã xa vời vợi nhưng cháu chẳng lúc nào quên nhắc nhở về bà. Tình yêu, lòng biết ơn của cháu đối với người bà cũng chính là lòng biết ơn đối với gia đình, quê hương, đất nước.

LUYỆN TẬP

Viết đoạn văn ngắn nêu cảm nghĩ của em về hình ảnh bếp lửa trong bài thơ.

Gợi ý trả lời:

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, hình ảnh bếp lửa.

- Số lần xuất hiện: 10 lần.

- Ý nghĩa: Bếp lửa là biểu hiện cụ thể và đầy gợi cảm về sự tảo tân, chăm sóc và tình yêu thương của bà dành cho cháu và những người thân. Bếp lửa là tình bà ấm áp, bếp lửa là tay bà chăm chút. Bếp lửa gắn với những gian khó đời bà. Ngày ngày bà nhóm bếp lửa cũng là nhóm lên niềm vui, sự sống, niềm yêu thương chi chút dành cho con cháu va mọi người.
Liên quan

Ngữ văn, Ngữ văn 9, Kiến thức, Kiến thức THCS, Lớp 9,
Những cuốn sách hay nên đọc - Bấm vào đây
Thống kê điểm chuẩn lớp 10 nhiều năm - Bấm vào đây
Tải SKKN=Tài liệu - Bấm vào đây

loading...

0 comments Blogger 0 Facebook

Post a Comment



 
Sach hay, Top 10 hay nhat, NCKHSPUD, SKKN, Hoi dap ©Email: tailieuchogiaovien@gmail.com. All Rights Reserved. Powered by >How to best
Link:Bantintuvan|tailieusupham|khoahocsupham|SKKN hay|Soidiemchontruong|dayvahoctot|diemthivao10hoctrenmobile|tradiemthituyensinh|Travel - Du lịch
Lớp 9: Ngữ văn | Toán | Tiếng Anh |Lịch sử |Địa lí | GDCD |
Trắc nghiệm lớp 9: Lịch sử
Lớp 12Ngữ văn|Toán|Tiếng Anh| Hóa học | Sinh học | Vật lí |Lịch sử|Địa lí|GDCD|
Top